Diễn Đàn Văn Hóa
- Nam Dao (Adelaide): Người anh hùng muôn thuở của sinh viên Paris
- Mai Loan: Những sai lầm tai hại khi loan tin không chính xác
- Ðinh Quang Anh Thái/Người Việt: Phỏng vấn tác giả 'Từ Ðiển Chiến Tranh Việt Nam'
- Nguyễn Kỳ Phong: TỪ ĐIỂN CHIẾN TRANH VIỆT NAM
- Tuly Nguyen: CHUYỆN PHẢI VIẾT !!
- Trần Gia Phụng: VIẾT CHO ĐÚNG SỰ THẬT
- Lữ Giang phê bình Trần Gia Phụng
- Tiểu Đệ: TÌM HIỂU SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT THÍCH CA
- Nguyễn Gia Tiến: BỨC TƯỜNG BERLIN
- Lữ Giang: Sợ diễn biến hoà bình
- PHÁP THỨC: CHÂN TƯỚNG “PHÁP NẠN BÁT NHÔ
- Lữ Giang: Tapes mới của Kennedy
- Nguyễn Kỳ Phong: Vài Ý Nghĩ về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
- Dr. Ngô Thế Vinh: Dòng sông câm nín
- Dr. NguyễnPhúc BửuTập: Phải chăng khủng bố Islam đã đến biên thuỳ Việt Nam
- Đỗ Hải Minh: Người Chăm Muslim lên tiếng phản bác bài viết của tác giả Nguyễn Phúc Bửu Tập nêu lên vấn đề: “Phải chăng khủng bố Islam đã đến biên thuỳ Việt Nam?”
Phỏng Vấn Đặc Biệt
| Những sai lầm tai hại khi loan tin không chính xác |
|
Mai Loan
Một trong những điều gây khó khăn không ít cho những người làm trong ngành truyền thông tiếng Việt ở hải ngoại là khó kiểm chứng được mức độ khả tín của những tin tức được viết từ trong nước đưa ra, dù dưới bất cứ hình thức nào, qua các cơ quan ngôn luận của nhà cầm quyền hoặc ngay cả từ những cá nhân hay tổ chức cung cấp những nguồn tin độc lập khác. Tin tức của nhà nước đưa ra, cho dù là của cơ quan chính thức như Việt Nam Thông Tấn Xã hoặc như của tờ báo lâu đời do đảng Cộng Sản chủ trương là tờ Nhân Dân cũng có quá nhiều điều khó thể tin tưởng vì mục đích của các cơ quan này không phải là loan tin trung thực và chính xác, mà nhằm vào mục đích tuyên truyền sao cho có lợi cho nhà cầm quyền trong nước. Còn đối với những nguồn tin độc lập khác, thường là qua những liên hệ cá nhân và sự tín nhiệm dựa vào những gì đã viết hoặc loan báo trong quá khứ khiến người ở hải ngoại có thể tạm tin tưởng rằng nó không phản ảnh luận điệu tuyên truyền, nhưng người ta cũng khó có cách nào để kiểm chứng mức độ chính xác, bởi vì những điều họ viết hay loan tin cũng phản ảnh sự chủ quan của họ, và cũng không được phối kiểm bởi một nguồn thứ ba độc lập và có uy tín khá cáo về mức độ khả tín. Ngay cả đối với những người được coi là thành phần đối kháng đang sinh sống ở trong nước, có điểm nào vững chắc để xác nhận rằng những điều họ viết ra hoặc loan tin ra hải ngoại là hoàn toàn trung thực chứ không phải chỉ là những điều phản ảnh suy tư hay nhận định theo cảm quan riêng? Điều sai lầm đối với nhiều cơ quan truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại khi sử dụng những nguồn tin của những nhân vật được coi như là thành phần đối kháng là có vẻ như dễ dàng chấp nhận những gì họ đưa ra bởi vì nó hạp với ý nghĩ của mình, vì cũng mang màu sắc chỉ trích hay chống đối việc làm của nhà cầm quyền Việt Cộng. Nhưng liệu chúng ta có bảo đảm được và tin chắc rằng đó là những người không thuộc vào thành phần đối kháng . . . cuội hay chăng? Những bài viết hay tin tức có nội dung chống đối hoặc đưa ra những hình ảnh tiêu cực trong nước biết đâu chừng có thể nằm trong một chiến lược đường dài tạo niềm tin và không nhiều hay ít cũng đã bị phía nhà cầm quyêàn trong nước kiểm soát hay cho phép ngầm được xì ra ngoài đến một chừng mực nào đó? Vì thế nên việc nghi ngờ về mức độ khả tín của tất cả những tin tức từ trong nước đưa ra là một điều rất dễ hiểu. Đó cũng là lý do chính mà kẻ viết bài này từ lâu đã tránh né việc khai thác các đề tài liên quan đến Việt Nam trong số hàng trăm các bài viết của mình trong năm, và chỉ chú trọng vào việc phân tích tổng hợp các diễn biến thời sự trên thế giới hoặc tại Hoa Kỳ, hoặc thảo luận về nhiều đề tài kinh tế. Bởi lý do đơn giản là mình không tìm được những nguồn tin có mức độ khả tín cao được loan ra bởi các hãng thông tấn đáng tin cậy, nhất là trước những đề tài có tính chất tế nhị liên quan đến nội tình chính trị trong nước. Trong khi đó, đối với các diễn biến thời sự trên thế giới hoặc tại Hoa Kỳ, chúng ta có thể an tâm tin tưởng vào mức độ khả tín cao của những bài viết hoặc thông tin đưa ra từ các hãng thông tấn lớn như AP, Reuters, AFP hoặc nhiều nhật báo, tuần báo lớn như New York Times, Washington Post, Time, Newsweek v.v. . . Và nếu không có được những nguồn tin khả tín để làm nền cho kiến thức về dữ kiện, thì tất cả những bài viết phân tích từ đó cũng dễ bị sai lầm hoặc lệch lạc, cho dù có được lý luận khéo léo hay tài tình đến đâu. Không phải chỉ vì kẻ viết bài này có đầu óc vọng ngoại khi chỉ tin tưởng vào mức độ khả tín của những ngòi bút quốc tế và nghi ngờ về các người viết ở trong nước, nhưng nếu chịu khó đi sâu vào chi tiết và xét kỹ cung cách làm việc của các cơ quan truyền thông quốc tế với kinh nghiệm và truyền thống làm việc lâu đời, họ có một yếu tố quan trọng mà gần như các cơ quan truyền thông tiếng Việt đều không có: đó là tinh thần chịu trách nhiệm (accountable) rất cao về những gì mình đã viết hoặc loan ra. Chẳng phải không có lý do mà ngành truyền thông được tôn trọng đến mức được coi là một Đệ Tứ Quyền, cũng có ảnh hưởng quan trọng không thua gì ba quyền hành chính thức được công nhận theo luật pháp là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Bởi vì những gì được loan tin bởi giới truyền thông cũng có ảnh hưởng cao để mở mang kiến thức và hướng dẫn quần chúng, vì thế nên muốn duy trì được sự ủng hộ kính nể này, ngành truyền thông bắt buộc phải tự tạo cho mình một tinh thần kỷ luật và trách nhiệm cao độ để tránh không loan tin sai sự thật, bóp méo sự thật, cho dù có gặp phải những áp lực to lớn từ những thế lực đối chọi từ chính quyền cho đến những thành phần băng đảng hoặc tội phạm khác, có thể không đồng ý và bực mình trước những điều được khui ra trên các diễn đàn truyền thông và tìm cách uy hiếp những người làm báo. Nếu như trong ba ngành của chính quyền mọi nhân viên thừa hành từ cấp nhỏ cho tới cấp cao nhất đều phải có tinh thần chịu trách nhiệm do luật pháp ấn định, tức là phải chịu hình thức kỷ luật (như bị cách chức, bãi nhiệm) nếu như phạm vào điều gì sai trái, thì riêng trong ngành truyền thông, tinh thần chịu trách nhiệm có thể coi như là một việc làm tự giác, chớ không phải bị bó buộc theo một quy định rõ ràng nào. Một ký giả, nhà báo, hay xướng ngôn viên truyền thanh hay truyền hình, mỗi lần loan tin hay viết điều gì sai trái thì phải biết tự tìm cách sửa sai sao cho thích hợp, chứ không phải chỉ đơn thuần nói lời xin lỗi qua ngày hôm sau khi bị phát giác, hoặc tệ hơn nữa, còn lờ đi trong một thời gian ngắn với hy vọng rằng mọi người sẽ dễ quên đi. Một tờ báo, hay đài phát thanh, đài truyền hình cũng rơi vào tình trạng tương tự. Liệu họ có dám sửa sai hay áp dụng kỷ luật hay không với nhân viên, nếu như đó là một ngòi bút kỳ cựu và nổi tiếng, một xướng ngôn viên trụ cột? Nhiều người cũng rất khó chịu khi thấy trên các đài phát thanh tiếng Việt tại hai nơi là Houston và Orange County, các ông bà xướng ngôn viên cứ thi nhau bình luận rất rôm rả và sôi nổi như là những chuyên viên hiểu biết sâu rộng, để rồi sau đó, hoặc qua ngày hôm sau thì lên tiếng . . . xin lỗi, vì đã được thính giả hay độc giả gọi tới để chỉnh lại cho đúng. Sự kiện chịu lên tiếng nhận lời đính chính những sai lầm của mình tuy là một điều tốt đáng khen, nhưng không phải vì thế mà mình tự coi đó là chuyện bình thường, một loại routine dễ xảy ra và tìm cách đổ lỗi là do vì làm tin gấp gáp nên không kịp kiểm chứng hoặc hiểu rõ vấn đề. Bởi lý do đơn giản là nếu như không có đủ giờ để kiểm soát mức độ chính xác của tin tức, không ai bắt quý vị của các đài phát thanh phải loan tin trong vòng một giờ đồng hồ. Thay vào đó, quý vị có thể dồn nhiều công sức để kiểm tra bài vở và cô đọng lại, có thể rút ngắn phần tin tức xuống còn 10 đến 15 phút, nhưng chẳng thà là có phẩm chất cao và cô đọng, còn hơn là kéo dài nói trong vòng 1 tiếng đồng hồ nhưng cũng chỉ là nói lan man, bình loạn nhiều hơn để trở thành gần như nói lảm nhảm, và do đó dễ phạm sai lầm. Những sai lầm để phải đính chính lại, phải được coi như là những trường hợp ngoại lệ, hiếm khi xảy ra và phải khiến cho những người đã sai phạm phải tự thẹn và xấu hổ, quyết tâm kỹ lưỡng hơn để không bao giờ tái phạm và lên tiếng xin lỗi lần nữa, cho dù có khéo dùng lời để nguỵ biện và cám ơn sự sửa sai từ phía độc giả và khán thính giả. Một vài thí dụ gần đây cho thấy những sai lầm tai hại khi loan tin không chính xác từ phía trong nước Việt Nam, nếu không muốn nói nặng hơn là khoác lác, mà các cơ quan truyền thông lớn và thường được coi là có uy tín cao trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng mắc phải để vô tình (hoặc cố ý?) tiếp tay cho bộ máy tuyên truyền thích nói khoác của nhà nước Việt Cộng. Đó là việc loan tin về chuyến đi của ông đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng quốc phòng của nhà cầm quyền Việt Cộng, vừa làm một chuyến công du sang Hoa Kỳ và có gặp gỡ với người đối tác là Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates của Hoa Kỳ. Ngoài ra, ông Thanh cũng có chương trình gặp gỡ với hai nghị sĩ liên bang là Jim Webb và John McCain. Khách quan mà nói, chuyến gặp gỡ cao cấp này cũng không có điều gì quan trọng, xuyên qua phần tường trình của giới truyền thông tại Hoa Kỳ, nhất là giữa lúc chính quyền Obama đang chú tâm và nhức đầu với nhiều hồ sơ rắc rối và nghiêm trọng hơn như vụ dự luật cải tổ bảo hiểm y tế hoặc là chuyện hội nghị Copenhagen để bàn về mối nguy hâm nóng địa cầu. Cả hai ông Robert Gates và Phùng Quang Thanh có chung một buổi gặp gỡ kéo dài trong 1 tiếng đồng hồ bao gồm luôn cả bữa ăn trưa, theo thói quen của nhiều viên chức tại Hoa Kỳ có thể vừa ăn vừa bàn thảo hoặc giải quyết nhiều vấn đề không lấy gì làm nghiêm trọng và căng thẳng. Với những nghi thức ngoại giao rườm rà và kiểu cách trong một bữa ăn của các viên chức cao cấp, người ta có thể đoán rằng cả hai ông tổng trưởng này cũng không còn nhiều thì giờ để bàn thảo những vấn đề trọng đại nào, và dĩ nhiên là sau đó cũng chẳng có những màn ký kết văn bản để đánh dấu một biến chuyển hợp tác cụ thể nào đó. Bản thông cáo của Ngũ Giác Đài (mà phía Việt Nam gọi một cách xách mé là Lầu Năm Góc) nói rằng “cả hai vị tổng trưởng đã bàn trong bữa ăn trưa một cuộc thảo luận rộng lớn trên nhiều hồ sơ liên hệ đến tương quan song phương về quốc phòng cũng như vấn đề an ninh trong vùng. Cả hai phía đều nhấn mạnh đến những khía cạnh tích cực trong việc hợp tác cho nhiều chiến dịch như tìm kiếm binh sĩ Mỹ còn mất tích (POW/MIA), gỡ mìn và giúp đỡ quân y. Cả hai bên đồng ý thêm về chuyện hướng đến việc nới rộng sự hợp tác trên nhiều lãnh vực như gìn giữ hoà bình, cứu giúp, viện trợ nhân đạo, trợ giúp khi xảy ra thiên tai. Cả hai bên đồng ý thiết lập một cơ chế để bàn thảo về những vấn đề chiến lược song phương ở cấp bộ trưởng. Phía ông Thanh nhắc đến vai trò của Việt Nam đang giữ chức vụ chủ tịch luân phiên của tổ chức ASEAN và nhấn mạnh tầm quan trọng của Hoa Kỳ vào sự ổn định và nền hoà bình trong vùng (Đông Nam Á).”
Tổng trưởng Robert Gates đón tiếp ông bộ trưởng Phùng Quang Thanh đến Ngũ Giác Đài tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
Những người rành rõi về các sinh hoạt hội họp kiểu này đều thấy xuyên qua nội dung của bức thông cáo trên là phía Việt Nam đang dùng cơ hội này để mong được hợp tác nhiều hơn từ phía Hoa Kỳ (được hiểu là có thể được cứu giúp hay viện trợ nhiều hơn). Trong tất cả những cái gọi là hợp tác song phương này, phía Việt Nam là có thể được hưởng lợi cụ thể (ở thế cầu xin) trong khi phía Hoa Kỳ có thể chỉ muốn giữ mối liên lạc để phòng xa (vì có thể đang ở vai trò ban phát lợi lộc). Nhưng khi trở về nước, ông đại tướng cầm đầu bộ quốc phòng Việt Cộng bắt đầu giở giọng khoác lác để khoe về thành quả chuyến Mỹ du của mình. Ông cho cơ quan Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) làm một cuộc phỏng vấn để ông nhấn mạnh đến nhu cầu tăng cường đối thoại và xây dựng lòng tin giữa hai bên. Ông cho rằng chuyến đi này nhằm khẳng định đường lối ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương và đa dạng của Việt Nam, để nâng cao hơn vị thế của đất nước cũng như của quân đội Việt Nam trên trường quốc tế. Nói chung, cũng chỉ là những đề tài chung chung, nói thế nào cũng được và ai muốn suy diễn ra sao cũng đúng. Nhưng sau đó ông bộ trưởng có thể hăng máu nên bắt đầu xì ra thêm những thông tin khác, có lẽ ông nghĩ rằng những công chức trong cơ quan thông tấn nhà nước không có khả năng hiểu biết và kiểm chứng, cũng như chẳng ai dám đưa ra những câu hỏi cắc cớ như thói quen của các tay truyền thông ngoại quốc. Ông Phùng Quang Thanh nói rằng ông cảm thấy thoải mái hơn khi gặp hai vị nghị sĩ được cho là có nhiều duyên nợ với Việt Nam . Ông Thanh ca ngợi các cuộc gặp gỡ nói chuyện với các nghị sĩ Jim Webb và John McCain là rất thú vị bởi vì họ đã đến Việt Nam và có những đóng góp tích cực trong việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Và rồi ông bắt đầu nói hớ khi phát biểu: “Tôi đã đề nghị với họ trên cương vị và khả năng của mình, ngăn không đưa dự luật nhân quyền cho Việt Nam ra Thượng Viện; và họ đã đồng tình không để việc đó xảy ra.” Nói tóm lại, ông Phùng Quang Thanh khoe rằng ông đã vận động theo kiểu lobby được hai nghị sĩ gạo cội để không cho đạo luật về nhân quyền có thể gây khó khăn và mất mặt cho phía Việt Nam được đem ra thảo luận và biểu quyết tại Thượng Viện. Nếu đó là chuyện đúng thì kể như là ông tướng bộ trưởng quốc phòng đã đạt được một thành quả lớn, không chừng có thể sẽ được tiến thân hơn nữa trong kỳ Đại hội Đảng lần tới vào chức vụ cao hơn như Thủ tướng hoặc Chủ tịch Nhà nước hay Tổng Bí thư Đảng. Tại hải ngoại, có hai cơ quan truyền thông lớn là đài phát thanh BBC và tờ nhật báo Người Việt cũng giúp cho bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền Việt Cộng loan tin “vịt cồ” láo khoét này mà không có phần bình luận hoặc kiểm chứng tối thiểu từ những nguồn tin độc lập khác. Dĩ nhiên, cả hai cơ quan truyền thông BBC lẫn Người Việt đều nói rằng mình trích dẫn từ nguồn tin của TTXVN, nhưng cả hai cũng đều không chịu kiểm chứng từ phía các vị nghị sĩ Webb hay McCain, nhất là trước đó người ta chẳng hề thấy bất cứ một thông cáo hay tin tức gì về phía Mỹ nói về đề tài này. Thông thường, trong những trường hợp như vậy, các bản tin của các cơ quan truyền thông đứng đắn và có giá trị bao giờ cũng kèm phần nhận định của mình có tính cách rào trước đón sau, đại loại như nói rằng “phần tin về phía Mỹ chưa được kiểm chứng”, hoặc là “chúng tôi loan tin với sự dè dặt”, những ngôn từ đủ để cho độc giả hay thính giả tự thẩm định lấy về mức độ khả tín của bản tin. Ngoài việc đúng ra phải ngạc nhiên trước nội dung có phần láo lếu, khoác lác của ông bộ trưởng quốc phòng của Việt Cộng như kể ở trên, mà đúng ra những người làm tin hoặc giữ vai trò chủ biên của những cơ quan truyền thông lớn và có uy tín phải e dè và kiểm tra lại trước khi loan tin ra (vì đây không phải là một loại tin nóng cần loan ngay), các vị nhà báo tiếng Việt của đài BBC và tờ Người Việt đã gần như lập lại lời nói của ông Thanh, vô tình khiến cho nhiều độc giả và thính giả tưởng rằng những lời nói đó như là sự thật, xuyên qua bản tin của BBC đề ngày 17-12 cũng như bài viết trên tờ Người Việt cùng ngày do ngòi bút TN hoặc Tư Ngộ? (xem các links http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/12/091217_phungquangthanh_inv.shtml hoặc http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=105700&z=2). Mà trớ trêu thay, việc kiểm chứng này cũng rất dễ dàng, bởi vì bất cứ một người nào làm trong ngành truyền thông cũng có thể dễ dàng liên lạc với văn phòng các vị nghị sĩ này để nghe lời xác nhận hay bình luận của họ. Ấy thế mà chẳng ai chịu làm cái công việc dễ dàng và đơn giản đó, một công việc cần thiết nhất để xác nhận mức độ chính xác hay khả tín trước khi loan tin. Và phải đợi đến một nhân vật thứ ba ngoại cuộc là ông bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, một chính khách cư ngụ tại San Jose hoạt động trong một tổ chức có tên là Đảng Dân Chủ Việt Nam, lên tiếng để phủ nhận về lời nói của ông bộ trưởng Phùng Quang Thanh, xuyên qua việc chính cá nhân ông Ngãi đã liên lạc trực tiếp với văn phòng nghị sĩ Jim Webb để hỏi cho ra lẽ và nhận được điện thư trả lời phủ nhận những lời phát ngôn của ông Thanh. (Đúng ra một thân hữu cư ngụ tại vùng Orange County, rất tinh ý về nhiều sự sai biệt giữa tin tức trên báo giới Hoa Kỳ và trong làng truyền thông tiếng Việt, đã gọi điện thoại báo ngay cho kẻ viết bài này để nêu lên chi tiết lạ lùng này ngay khi thấy có bài viết trên tờ Người Việt vào cuối tuần qua. Sau đó khi kiểm chứng kỹ hơn, chúng tôi cũng khám phá ra trên đài BBC cũng loan tin như vậy. Phải chăng nhiều người trong ngành truyền thông tiếng Việt vẫn còn có thói quen tin tưởng vào những đài phát thanh lớn như BBC , VOA, RFI và RFA nên nhiều khi không ngần ngại sử dụng những nguồn tin lấy ra từ các cơ quan này mà không chịu tự mình làm công việc kiểm chứng, một thói quen trong nghề thường gọi là tracking hoặc vetting để biết rõ hư thực?) Phải đợi đến đầu tuần hôm sau thì trên tờ Người Việt mới có thêm một bài viết khác, đề ngày 21-12, cũng đề tên người viết là TN, với tựa đề (Tướng Phùng Quang Thanh “nói sai sự thật”), dựa vào thông tin đưa ra từ ông Nguyễn Xuân Ngãi để cho rằng những điều ông tướng này nói ra trong bài viết trước là “nói sai sự thật”. Bài viết này thuật lại việc làm của ông Ngãi đã điện thoại hỏi văn phòng của nghị sĩ Jim Webb và được trả lời bằng điện thư phủ nhận hoàn toàn việc ông Thanh cho rằng các ông nghị sĩ Hoa Kỳ đã đồng ý ngăn chặn dự luật này được đưa ra thảo luận tại Thượng Viện. Bức điện thư có đoạn viết rất rõ như sau: “The issue of Vietnam Human Rights Bill were not raised in the meeting”, (tạm dịch là Hồ sơ Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam đã không được nói đến trong cuộc gặp gỡ.) Nói một cách khác, bức điện thư của nghị sĩ Jim Webb, do ông Nguyễn Xuân Ngãi cung cấp, cho thấy là ông bộ trưởng Việt Cộng có óc tưởng tượng quá phong phú nên đã tường trình, thuật lại một thành tích của ông nhưng trong thực tế thì điều đó là một chuyện chưa bao giờ xảy ra. Bài viết thứ hai lần này trên tờ Người Việt cũng chỉ nhằm mục đích cho thấy là ông Phùng Quang Thanh đã nói dối (ngay cả tờ Người Việt cũng không dám nhấn mạnh, mà chỉ viết là “nói sai sự thật”). Không biết là đài BBC sau đó có xác nhận sự “nói sai sự thật” này hay không. Nhưng dường như người ký giả TN và ban chủ biên tin tức của tờ Người Việt cũng không ý thức được tầm mức tai hại và thiếu sót của mình trong việc cho đăng các bài viết như trên. Nội dung của hai bài viết này có vẻ như loan tin những điều đã xảy ra, còn chuyện nói sai sự thật thì đó là lỗi của ông bộ trưởng P. Q. Thanh, hoặc là của ký giả của cơ quan thông tấn TTXVN, tuyệt nhiên không có một lời nào có tính cách xin lỗi với độc giả của toà báo về việc đã không chịu kiểm chứng kỹ lưỡng trước khi cho đăng bản tin đầu tiên vào ngày 17-12. Trong một chừng mực nào đó, người viết tin và ban chủ biên đã không có cách hành xử chứng tỏ tinh thần chịu trách nhiệm (accountable) trước việc làm tắc trách của mình. Đây là một việc làm đáng tiếc, nhất là đối với tờ Người Việt, nhật báo tiếng Việt lớn nhất tại hải ngoại, ngay giữa lòng thủ đô của khối người Việt tị nạn cộng sản, nhất là từ vài năm qua tờ báo này đã gặp nhiều khó khăn vì sự chống đối dữ dội của nhiều người Việt trong vùng trước nhiều vụ “trục trặc kỹ thuật” khiến tờ báo này bị nhiều người chụp mũ là thân Cộng. Riêng đối với đài BBC , sự kiện ban giám đốc của đài này đã cố tình không thuê mướn những người thuộc thế hệ cũ sinh sống tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và chỉ thuê mướn những người trẻ lớn lên sau này ở miền bắc và không biết gì về miền nam (như Nguyễn Giang trong chức vụ trưởng ban tin tức tiếng Việt), cũng phải khiến cho nhiều người, dù dễ dãi đến mấy đi nữa, cũng phải nhìn thấy dụng ý về chính trị của ban giám đốc đài này vẫn muốn có một mối liên lạc có thiện cảm nào đó với nhà cầm quyền Việt Cộng, chứ không hẳn là hoàn toàn theo đuổi con đường thông tin trung thực tuyệt đối như đã hô hào chủ trương. Nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh, hiện làm chủ bút tờ Thời Báo tại Houston và cũng là một nhà báo kỳ cựu, hoạt động lâu năm trong nghề từ thời trước năm 1975, đã từng viết nhiều bài nhận định về việc làm sai trái và tai hại của ban chủ biên tiếng Việt của đài BBC , nhất là của ông Nguyễn Giang, trong việc loan tin một cách bóp méo để tránh gây bất lợi cho nhà cầm quyền Việt Cộng. Tiếc thay, nhiều người Việt vẫn còn có thói quen tín nhiệm đài này, và tệ hại hơn nữa, nhiều người làm trong ngành truyền thông tiếng Việt, còn thích và sẵn sàng trích dẫn nhiều nguồn tin từ đài này, và coi đó như là một thứ tiêu chuẩn khá nhất hiện nay. Trước đây, đài phát thanh Little Saigon Radio còn tìm cách kết thân với đài BBC , mời mọc nhiều nhân viên của đài này sang thăm các khu Orange County và Houston, viết bài ca tụng trên báo Việt Tide, và tính đến chuyện hợp tác chuyên môn bằng cách gửi các nhân viên như ĐQAT và KN sang Luân Đôn để học việc. Khách quan mà nói, những người làm trong các ban Việt-ngữ này chẳng có gì tài giỏi và có khả năng hơn, bởi vì họ chỉ được thuê mướn để làm công việc chuyển dịch lại các bài viết của các ký giả, nhà báo chính gốc của các đài này. Hơn nữa, vì sinh trưởng tại miền bắc trong thời gian chiến tranh trước năm 1975, những người trẻ sau này và đa số được thuê mướn vào làm ở các đài phát thanh lớn, tuy được đi ra ngoại quốc và tự do đọc tin tức từ nhiều nguồn khác nhau, vẫn khó có thể hình dung hay cảm nhận được một sự thiên vị nào đó khi viết hoặc nói về những đề tài nhạy cảm. Đơn giản mà nói, chỉ riêng việc sử dụng từ ngữ có phần khác biệt và xung khắc cũng đủ nói lên một sự thiên vị (bias) nào đó, cho dù là vô tình hay cố ý. Cùng một sự việc nhưng có thể được gọi bằng hai từ ngữ khác nhau, và do đó đã chứa đựng một cái nhìn khác biệt về mặt tuyên truyền và chính nghĩa. Một biến cố 30-4-75 có thể được gọi là một cuộc giải phóng hoặc là một ngày mất nước. Một cuộc giành nổi dậy vào năm 1945 có thể được gọi là một cuộc Cách mạng Mùa Thu của toàn dân hoặc là một cướp công của toàn dân và mọi đảng phái để giành quyền riêng về tay một đảng cộng sản. . . Đúng ra, các cơ quan truyền thông lớn và giầu mạnh như đài LSR và tờ Người Việt có thể dành tiền để thuê mướn nhiều người mỗi ngày theo rõi các bản tin cập nhật của hãng thông tấn AP rồi sau đó chuyển dịch sang tiếng Việt cho lưu loát và chính xác thì cũng có khả năng trở thành một cơ quan truyền thông có uy tín cao, mỗi ngày cung cấp tin tức đầy đủ và đúng tiêu chuẩn để mọi người khác có thể dựa vào, thay vì cứ phải đi dựa vào các đài khác như BBC và VOA v.v. . . mặc dù đã mang tiếng là những cơ quan truyền thông giầu mạnh và hoạt động từ trên 15 năm (như LSR) hoặc 30 năm (như tờ Người Việt). Đối với đài BBC cũng còn có một vụ loan tin có chiều hướng bóp méo sự thật gây bất lợi cho phía người Việt quốc gia. Đó là việc ký giả Nguyễn Hùng phỏng vấn ông Hoàng Duy Hùng (HDH), nghị viên tân cử tại thành phố Houston . Đại để, trong bài viết tóm gọn cuộc phỏng vấn của ông Nguyễn Hùng, BBC đã viết lại như sau: “Trả lời BBC , ông (HDH) nói ông và cộng đồng Việt tại Houston không hề chống đối việc mở toà lãnh sự mà chỉ chống ‘đi đêm với cộng sản’ ”. Dĩ nhiên, điều này đã khiến nhiều người Việt chống Cộng bực tức với ông HDH và cho rằng ông này đã trở cờ, trước đây khi ra tranh cử thì hô hào chống việc lập toà lãnh sự, nhưng nay vừa mới đắc cử thì đã nói ngược lại. Trong một chừng mực nào đó, người ta có quyền chống ông HDH về chuyện ông hay đưa ra những lời nói bất nhất tuỳ từng nơi và từng đối tượng khi ông nói chuyện, và có nhiều lúc ông cũng sẵn sàng tuyên bố vung vít để khích động người nghe, đưa ra nhiều lời hứa hẹn đầy tính “đao to búa lớn” và thiếu khả tín nhưng có sức hấp lực cao dễ thu hút nhiều cử tri gốc Việt, trước những chủ đề như chuyện biểu tình chống Cộng; cương quyết chống lại việc thành lập toà lãnh sự Việt Cộng tại Houston; cần phải có một người Việt vào chính quyền thành phố để giành cho được quyền lợi của người Việt v.v. . . nhưng trong thâm tâm hoặc trong thực tế, ông biết đó là những việc khó thể thực hiện. (Trong bức tâm thư số 1 của hàng chục người ký tên ủng hộ cho ông Hùng, có ghi lời kêu gọi nên bỏ phiếu cho luật sư HDH vì “ông sẽ giúp chúng ta ngăn chận việc thành lập Tổng Lãnh Sự Quán Việt Cộng tại thành phố này.”) Nhưng trong cuộc phỏng vấn với đài BBC vào ngày thứ Hai 14-12 sau kết quả bầu cử tại thành phố Houston (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/av/2009/12/091214_al_hoang_audio.shtml), ông HDH đã trả lời rất đúng và khôn ngoan rằng việc thiết lập toà lãnh sự tại Houston thuộc về thẩm quyền của chính quyền liên bang, tức là phủ trùm lên chính quyền thành phố mà ông sẽ có chân trong ban đại diện trong thời gian tới. Tuy nhiên, chính quyền tại địa phương Houston cũng như người dân, nhất là người Việt, vẫn có quyền bầy tỏ tiếng nói chống đối của mình qua hình thức biểu tình phản đối trước cửa toà lãnh sự. Từ sự kiện này mà tóm gọn lại để nói rằng ông (HDH) nói ông và cộng đồng Việt tại Houston không hề chống đối việc mở toà lãnh sự mà chỉ chống ‘đi đêm với cộng sản’ như lời của ông nhà báo Nguyễn Hùng thì quả là một cách thức “paraphrase” rất nguy hiểm và tai hại, vì đã bóp méo sự thật trên một vấn đề rất tế nhị và nhức nhối, mà chắc hẳn người nghe cũng như người viết tin không thể nào xem nhẹ được và cho rằng đó là do sơ suất nhỏ. Hy vọng rằng sau khi nhìn ra những sai lầm và thiếu sót này, cho dù là vô tình hoặc không để ý kỹ, những người làm truyền thông trong cộng đồng người Việt chịu khó trau giồi khả năng và kiến thức hơn, và tự học hỏi qua cung cách làm việc của những cơ quan truyền thông đa dạng tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, thay vì có thói quen thích chê bai rằng làng báo chính mạch ở Hoa Kỳ có tinh thần cấp tiến và thiên tả nên không ưa thích và không thèm đọc hoặc nghiên cứu. Mong lắm thay. Mai Loan Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó Houston, Texas 27-12-2009 |
